Chữa bệnh bằng Khí Công cũng sử dụng đến huyệt để chuyển khí bằng nội khí trong cơ thể hay bằng ngoại khí do người khác truyền vào.

Dù nội khí hay ngoại khí đi vào kinh mạch của cơ thể được hữu hiệu hay không cũng cần có sự tập trung của ý theo dõi những biến chuyển nơi huyệt và cũng cần khai thông kinh Tam Tiêu ở huyệt Ủy Dương và thông các huyệt nằm trên Mạch Nhâm-Đốc. Lúc đó, tùy theo chức năng của huyệt được chọn sẽ tác động vào khí, vào huyết để chuyển hóa làm tăng, làm giảm, làm xuất, liễm, thăng, giáng, bổ, tả, làm thông, làm tiêu, làm hòa...
Cách bổ, tả huyệt theo phương pháp khí công khác với cách dùng kim châm. Bởi vì sau khi châm và lưu kim, bệnh nhân nằm chờ rút kim, thì tâm ý để ngoài thân để cho tâm viên, ý mã (tâm hoạt động lăng xăng như con vượn, ý suy nghĩ chạy tứ tung từ ý này sang ý khác như ngựa chạy) như vậy sự chuyển hóa của huyệt được kích thích kém hữu hiệu.
Còn chữa bệnh bằng khí công cần phải kích thích vào huyệt cho bệnh nhân có cảm giác hơi đau để bệnh nhân phải chú ý theo dõi những biến chuyển ở nơi bị đau khi day bấm hoặc vuốt trên huyệt. Theo nguyên tắc khí công, ý ở đâu thì khí khí ở đó, như vậy bệnh nhân đã sử dụng nội khí tác động lên huyệt. Người bấm huyệt truyền ngoại khí vào huyệt để dẫn nội khí đi theo kinh mạch vào chân khí, chuyển vào ngũ tạng lục phủ để điều chỉnh khí hóa hòa hợp. Bệnh nhân ngậm miệng, cuốn cong lưỡi lên vòm họng trên để nối mạch Nhâm-Đốc và để tuyến hạch cổ tiết ra nước miếng giúp điều hòa âm dương thủy hỏa cho việc khí hóa.
Tùy theo cảm giác đau của huyệt khi dùng phép tả hay cảm giác nóng nơi huyệt khi dùng phép bổ, day ấn, cũng có tính chất dẫn truyền tín hiệu giao cảm lên não, não nhận được tín hiệu sẽ tiết ra một loại hormone tương xứng với yêu cầu của chức năng huyệt để tạo ra một phản xạ hóa học lập lại sự quân bình làm hết đau, hay làm mát hoặc làm ấm bằng số lượng hormone tương ứng. Đó chính là một loại thuốc thiên nhiên có sẵn trong cơ thể con người để tự chữa bệnh gọi là hệ nội dược (médicaments internes), nội dược được tiết ra do kích thích huyệt cho đến khi ngưng không kích thích, hoặc cứ tiếp tục kích thích. Số lượng nội dược tiết ra nhiều cho đến khi bão hòa thì lập tức nơi huyệt sẽ có phản xạ né tránh không tiếp nhận. Ngược lại, khi vừa bấm vào huyệt bệnh nhân cảm thấy tự nhiên đau nhiều, có phản xạ chống đối ngay lập tức mặc dù bấm nhẹ, đó là phản ứng từ chối do thầy thuốc chọn huyệt sai không đúng với nhu cầu cần thiết của cơ thể, nếu cứ tiếp tục day bấm ở huyệt đó sẽ tạo ra phản ứng hóa học xấu. Còn có huyệt bệnh nhân cảm thấy đau chịu được, không có phản xạ chống đối, nếu thầy khí công sợ không dám bấm tiếp thì huyệt đó mới chỉ truyền tín hiệu giao cảm báo đau, chưa tạo ra sự kích thích đủ để thần kinh vận động chuyển hóa khí, hệ nội dược chưa kịp tiết ra hormone để tạo ra một phản xạ chữa bệnh thì sẽ không có kết quả.Thí dụ như khi bấm vào huyệt Khí Hải (dưới rốn 1,5 thốn), bệnh nhân bị đau, mình không dám bấm tiếp tục thì cơ thể không tạo ra thuốc chữa. Nếu cứ bấm tiếp, bệnh nhân đau nhưng chịu được, dần dần hết đau và bệnh nhân cảm thấy có luồng khí ấm chuyển ra sau lưng vào huyệt Mệnh Môn sau lưng (đối xứng với rốn). Sau đó, bệnh nhân có cảm giác nơi huyệt Khí Hải hết đau tức, bụng dưới nhẹ nhõm không còn cảm giác căng đầy như lúc chưa bấm.
Khi bấm vào huyệt Quan Nguyên, dưới rốn 3 thốn, phải thấy được hai bàn chân và ngón chân nhúc nhích, vì chức năng huyệt này là bổ huyết, dẫn máu xuống nuôi chân.
Bấm hai huyệt Thái Khê, cạnh mắt cá chân trong, và huyệt Côn Lôn, cạnh mắt cá chân ngoài, khi nằm sấp, phải thấy được bàn chân và ngón chân bên kia nhúc nhích, chứng tỏ đường khí huyết dẫn truyền của hai huyệt đã đi thông suốt qua lưng, qua cột sống lên não, não nhận được tín hiệu, truyền phản xạ sang chân bên kia. Ngược lại, nếu bấm hai huyệt bên đây mà không biết đau là hệ thống nhận tín hiệu giao cảm hư, chứng tỏ đoạn kinh dẫn truyền giao cảm hư, trong bệnh tê liệt, tổn thương não, nếu bệnh nhân kêu đau nhưng không có phản xạ là đường dẫn truyền phản xạ hư do bị bế tắc ở não hoặc ở trên đường kinh, còn nếu vừa biết đau vừa nhúc nhích chân bên đây mà không có phản xạ dẫn truyền sang chân bên kia là đường dẫn truyền phản xạ tắc do nửa bán cầu não bị tổn thương do máu vón, tắc mạch máu não.
Khi tắc mạch máu não, day bấm vào huyệt Chí Âm, đầu góc móng chân út phía ngoài để khai thông bế tắc làm tan máu bầm trên não, sẽ có cảm giác đau dẫn truyền lên não tạo phản xạ tức thời khiến chân bên kia co giật, nếu chân bên kia không co giật chứng tỏ máu tắc ở não quá nhiều không thể thông bằng huyệt mà cần phải lấy máu bầm ra bằng phẫu thuật.
Cho nên cách chữa bệnh bằng khí công cũng dùng đến huyệt để chuyển nội khí hoặc truyền ngoại khí qua chức năng khí hóa của huyệt, nhưng phải dùng ý tập trung của bệnh nhân là chính. Có hai cách giúp cho ý phải tập trung vào huyệt:
Chủ ý: Khi bệnh nhân còn tỉnh táo, dặn bệnh nhân chú ý theo dõi nghe những biến đổi xảy ra nơi huyệt được kích thích, trước có cảm giác đau, từ từ giảm đau, trước có cảm giác huyệt lạnh sau có cảm giác nơi huyệt nóng dần, trước không nghe dưới huyệt máy động, sau nghe dưới huyệt máy động, nghe được nhịp đập của mạch từ nhẹ, không đều, sau nghe tiếng đập lớn, rõ và đều, có luồng khí chạy lên hoặc chạy xuống, có cảm giác ngứa, cảm giác tê, cảm giác chảy mồ hôi.
Khách ý: Là thầy khí công chọn huyệt thích hợp như muốn cho khí thăng, khí giáng, tăng nhiệt, hạ nhiệt từ huyệt đó, hoặc bấm tả hoặc day bấm bổ. Khi tinh thần bệnh nhân suy nhược, sự khí hóa hư yếu sẽ không có một cảm giác nào, thầy khí công cứ kích thích trên huyệt ấy một lúc khiến bệnh nhân có cảm giác đau, có phản ứng phòng chống lại cái đau, như vậy thầy khí công đã giúp cho bệnh nhân biết đặt ý vào nơi đau để biến thành chủ ý để theo dõi những biến chuyển của huyệt như trên thì cơ thể mới tạo ra thuốc tự chữa bệnh.
Vương Văn Liêu biên soạn theo tài liệu của Thầy Đỗ Đức Ngọc
Nguồn: Khí công Y Đạo VN