Chúng ta đôi khi thắc mắc không hiểu tại sao những người bị cùng một bệnh, uống cùng một loại thuốc giống nhau mà có người khỏi bệnh, có người lại bị bệnh nặng hơn. Đó là do tình trạng thể chất khác nhau, do điều kiện môi trường sống, sự nghỉ ngơi và cách ăn uống khác nhau, cho nên sự ăn uống cũng là một trong các điều kiện có ảnh hưởng lợi và hại đối với bệnh tật.
Mặt khác, trên nguyên tắc, cơ thể bị bệnh là do sức đề kháng của cơ thể suy yếu nên dễ bị bệnh hơn những người khác cùng chung một điều kiện sống làm việc và ăn uống giống nhau, như vậy là do điều kiện hấp thụ và chuyển hoá thức ăn thành chất bổ nuôi cơ thể ở mỗi người mỗi khác, tùy theo nhu cầu mà cơ thể cần.
Thức ăn không hẳn cần thiết phải đầy đủ sinh tố, giàu chất dinh dưõng, bởi vì khi cơ thể dư thừa những chất bổ không cần thiết, sự tiêu hoá và đào thải không kịp nó trở thành độc tố làm hại cơ thể. Đối với con người, sự hấp thụ và chuyển hoá thức ăn nhanh chậm, nhiều ít khác nhau tùy điều kiện hoạt động và nhu cầu của cơ thể mỗi người khác nhau.
Phương pháp ăn
Phải biết loại thức ăn nào phù hợp với căn bệnh có thể giúp cho bệnh mau hồi phục, và loại thức ăn nào có hại làm cho bệnh trở nặng thêm, có những món ăn khi phân chất thành phần dinh dưỡng có vẻ có ích nhưng khi ăn vào cơ thể lại có phản ứng xấu, có những món ăn tưởng như không có gì là bổ nhưng khi ăn vào lại thấy khỏe, như vậy chứng tỏ món ăn đi vào cơ thể không những bằng chất đạm, vitamin, chất đường, chất béo và nhiệt lượng calorie... mà nó còn đi vào cơ thể bằng chất khí vô hình, nhìn không ra, tìm không thấy nhưng ăn vào cảm thấy khỏe. Cho nên đông y chú trọng đến khí, tính và vị của món ăn, thuốc uống, cái nào hợp và cái nào gây bất lợi cho cơ thể lúc đang bị bệnh.

Khí-tính-vị của thức ăn
Khí-tính-vị của thực phẩm và cây trái, theo đông y, nó dẫn các chất dinh dưỡng vào cơ thể để tạo ra sự trao đổi chất mà không quan tâm đến các thành phần nguyên tố có trong thực phẩm, vì nó đương nhiên có sẵn trong thực phẩm mới có được khí vị riêng biệt của mỗi loại. Chẳng hạn như theo tây y thành phần dinh dưỡng trong cam, quýt, bưởi, đa số chứa vitamin C nhiều nhất, rồi đến chất đường, các nguyên tố, sinh tố và phần còn lại rất ít không biết rõ, được gọi là các hoạt chất khác, nhưng theo đông y, chính những hoạt chất này tạo ra khí, tính và vị đặc biệt có tính chất trị bệnh, nó có thể làm lợi cho cơ thể hay làm hại cho cơ thể. Nếu chúng ta làm một thí nghiệm ngược lại, chọn tất cả các thành phần hợp chất có trong cam, quýt để chế ra cam quýt nhân tạo thì không thể nào giống như tính-khí-vị thiên nhiên có khả năng chữa bệnh như cây trái được.
Thí dụ những người bị bệnh suyễn do phổi, trong trị liệu của đông y phải khám xem là suyễn thuộc phổi hàn (xoang phổi ẩm ướt) hoặc thuộc phổi nhiệt (xoang phổi khô nóng), nếu phổi hàn cần phải dùng vitamin C thì nên ăn quýt, trong hoạt chất quýt có chất khí tạo ra nhiệt để dẫn vitamin C vào cơ thể, cũng giống như nước có thành phần H2O, khi ngườI bị bệnh rét lạnh thì thích uống nước nóng, nếu uống nước lạnh làm cho người lạnh thêm, nhưng người đang bị sốt nóng, không thích uống nước nóng làm tăng sốt mà thích uống nước mát lạnh để giảm sốt, cho nên tạo khí nóng lạnh không làm thay đổi thành phần H2O của nước, nhưng nhờ khí-tính-vị có trong thực phẩm cây trái sẽ đem thành phần thuốc vào cơ thể tạo ra phản ứng thuận hay nghịch. Trường hợp suyễn nhiệt nên ăn cam sẽ tạo ra khí mát cho phổi.
Trường hợp không phải bệnh suyễn, cơ thể suy nhược thiếu vitamin C, thiếu sức đề kháng chống bệnh tật mặc dù ăn nhiều, người béo, cholesterol trong máu cao, không bị hàn hay nhiệt, nên ăn bưởi, vì hoạt chất trong bưởi không tạo ra khí hàn, khí nhiệt mà tạo ra khí thanh làm tiêu bớt chất béo như mỡ, cholesterol... cho nên kinh nghiệm nhân gian thường nói cam hàn, quýt nhiệt, bưởi thanh.

Ngoài ra khí được dẫn vào cơ thể bằng vị cũng đã có sẵn trong những hoạt chất khác ấy, tuy hàm lượng rất nhỏ, có cái ăn được, có cái không ăn được Tây y không để ý, nhưng đông y lại dùng để chữa bệnh, như vỏ quýt được gọi là trần bì dùng để sắc uống làm hạ đàm, vì khí của nó làm tan, tính của nó ấm (ôn) và vị của nó hơi cay vào phổi, hơi ngọt vào tỳ và bao tử, nên dẫn đàm đi xuống; cuống của trái hồng sắc uống dùng để chữa bệnh nấc cục vì khí vị của nó đi xuống bao tử làm hạ hơi ngăn nghẹn ở cổ họng; như ớt có vị cay vào phổi, tính nóng làm ấm cơ thể, khí của nó vừa thăng vừa xuất cho nên khi ăn vào làm sắc mặt đỏ, ở vùng sơn lam chướng khí cần ăn nhiều ớt, khi bị sốt rét ăn bao nhiêu ớt cũng không thấy cay, vì hàn khí thấm sâu vào cơ thể chưa xuất ra được, nhưng nếu một người không bị sốt rét mà ăn ớt nhiều nó sẽ tạo phản ứng đẩy nhiệt khí ra ngoài làm xuất mồ hôi...
Một cách tệ hại do thói quen chúng ta thường hay mắc phải là thấy có ai mách bảo ăn thứ này tốt, bổ, ăn thứ kia không tốt. Điều đó không hoàn toàn đúng, mặc dù phân chất thành phần thức ăn có nhiều chất bổ dưỡng, không chứa độc tố, nhưng nếu hợp khí-tính-vị với cơ thể đang cần mới thành thuốc bổ, còn ngược lại khí-tính-vị không hợp với cơ thể thì làm hại cơ thể. Cũng vì thế ăn uống để chữa bệnh theo phương pháp macrobiotic cũng không đạt được kết qủa mong muốn, vì nó không đáp ứng được nhu cầu khí-tính-vị mà cơ thể đang cần.
Đông y đã có những kinh nghiệm tìm tòi khí, tính và vị trong cây cỏ dùng để làm thuốc chữa bệnh, có những kinh nghiệm nghiên cứu sự vận chuyển của khí trong cơ thể đối với từng tạng phủ bằng những thử nghiệm trực tiếp trên cơ thể bệnh nhân qua bao nhiêu thời đại mới đúc kết thành quy luật khí hóa của âm dương ngũ hành cho đến ngày nay vẫn còn áp dụng có kết quả. Quan niệm của đông y, mọi bệnh tật xảy ra đều do sự biến đổi của khí trong hệ thống khí hóa của tinh-khí-thần.
KHÍ CỦA TINH có trong thực phẩm, cây trái, và các loại thuốc cây cỏ, được xét theo 3 tiêu chuẩn khí, tính và vị. Thành phần nguyên tố, các hợp chất và các hoạt chất khác có trong thực phẩm, cây, cỏ, hoa, lá, được phân chất theo tây y là thành phần chính của thuốc nhưng đông y còn phải biết đến khí của nó là gì, tính của nó là gì và vị của nó là gì mới có thể biết cách sử dụng trong việc chữa bệnh.

Khí của một loại cây cỏ phải có một trong tám đặc điểm như đi lên, xuống, vào, ra, hòa hợp, thu giữ, cho ói ra, cho đi đại tiện (gọi là khí thăng, giáng, liễm, xuất, hòa, cố, thổ, hạ).
Tính có thứ làm mát (hàn), làm nóng (nhiệt), làm ấm (ôn), làm khô (táo), làm chuyển động (phong), làm ẩm thấp (thấp).

Vị để dẫn thuốc vào tạng phủ như vị mặn, ngọt, chua, cay, đắng. Chất mặn đẫn thuốc vào thận, chất ngọt dẫn thuốc vào tỳ, chất chua dẫn thuốc vào gan, chất cay dẫn thuốc vào phổi, chất đắng dẫn thuốc vào tim.
Vị tạo ra 3 phản ứng khác nhau tùy ở nồng độ nhạt, vừa hay đậm. Vị nhạt thì phản ứng nhẹ, chậm, vị vừa phản ứng mạnh hơn thì bổ, nếu đậm quá mà tạng phủ không chịu nổi thì cho phản ứng nghịch thành tả làm hại tạng phủ. Tuy nhiên phản ứng thuận hay nghịch lệ thuộc vào khả năng hấp thụ của tạng phủ. Thí dụ người bị bệnh tiểu đường do chức năng vận hóa của Tỳ yếu không có thể hấp thụ 100% chất ngọt có trong dưỡng trấp, mà chỉ có khả năng hấp thụ 20%. Trong trường hợp số lượng chất ngọt vào cơ thể 30%, khả năng của Tỳ chỉ chuyển hóa được 20% để nuôi cơ nhục, còn dư lại 10% nằm trong máu và nước tiểu, cho nên khi thử máu và nước tiểu thấy có đường, trường hợp này vị nhạt vào tỳ sẽ có phản ứng thuận, nếu vị đậm sẽ hại tỳ. Cho nên vị dẫn thuốc vào tạng phủ phải tùy thuộc vào khả năng hấp thụ và chuyển hóa của tạng phủ khi có bệnh. Theo cách chữa của đông y không phải kiêng ăn đường mà cần phải làm mạnh tỳ cho tăng khả năng hấp thụ và chuyển hóa được nhiều lượng đường hơn để tỳ có thể hấp thụ được 30, 40, 50, 60%...
Ứng dụng Khí-tính-vị trong chế biến thuốc
Nhờ vào nguyên tắc này mà chúng ta có thể chế biến thực phẩm hoặc thuốc cho phù hợp bổ hay tả cho tạng phủ khi cần thiết. Thí dụ loại thuốc củ gấu (hương phụ) khí của nó làm thông khí, khai uất, tiêu tích ứ kết, tính của nó làm điều hòa, vị của nó ngọt dẫn vào tỳ. Nếu chúng ta muốn sử dụng khí và tính của thuốc để chữa bệnh tích tụ uất kết làm đau trong gan thì cần phải sao chế đổi nó thành vị chua, nếu tích tụ làm đau ở thận, phải đổi vị của nó thành mặn, và tùy khả năng hấp thụ và chuyển hóa mà điều chỉnh vị nhạt, vừa hay đậm cho phù hợp với nhu cầu mà tạng phủ đang có bệnh.
Đối với thuốc tây cũng vậy, như Calcium (Canxi) ai cũng cho là bổ xương, nhưng đối với đông y, nếu chế biến có vị mặn dẫn vào thận để bổ xương, có vị chua vào gan thì không cần thiết cho gan, tính của thuốc nóng làm hại gan và tim mạch trong trường hợp bệnh nhân có bệnh cao huyết áp và thấp khớp, chất calcium theo máu theo ống mạch làm cứng mạch và thoái hóa các đốt xương. Nếu chế biến có vị cay thì vào phổi sẽ có lợi trong trường hợp phổi yếu lạnh hoặc cấn phải làm mau lành những vết loét trong phổi. Khi bao tử bị loét, cần tráng lên vách thành bao tử chất Magnesium (Ma giê), nhưng nếu hãng bào chế có loại Magnesium vị ngọt, thuốc sẽ dẫn vào bao tử, nếu có vị cay thì nó không chữa bao tử mà vào phổi, nếu có vị mặn nó vào thận mà không chữa bao tử.
Khi bao tử đau, uống Maalox có hiệu nghiệm vì trong Maalox chế bằng cam thảo có vị ngọt dẫn vào bao tử, khí của nó là hòa hợp, tính của nó là ôn (ấm). Cho nên phương pháp chế biến thuốc hay chế biến thức ăn đúng với nhu cầu của bệnh tật đều tạo ra khí để thành thuốc chữa bệnh nên cũng gọi là khí công chữa bệnh.
Trong cách chế biến thuốc của đông y, người ta có thể thay đổi phần nào khí, tính và vị của nó nếu cần phải dùng đến nó. Thí dụ một loại thuốc có khí thăng (đi lên, tính lạnh-hàn), nếu vị dẫn thuốc vào tim sẽ ra sao, vào phổi sẽ ra sao, vào tỳ sẽ ra sao, vào gan sẽ ra sao, vào thận sẽ ra sao? Nếu vào tim trong lúc tim bị nhiệt làm nóng sốt nhức đầu, thì tính lạnh làm mát đưa lên đầu sẽ có lợi làm mát đầu, giảm sốt, nhưng nếu sốt rét cơ thể lạnh, nhức đầu lạnh, tim đập yếu, nếu dùng loại thuốc trên sẽ chết người, mặc dù trong thuốc không có độc. Ngược lại nếu bắt buộc phải dùng chất thuốc có trong loại thuốc đó người ta phải cho vị nhạt đi để tạo phản ứng nhẹ không gây nguy hiểm, hoặc sao chế rang, tẩm thêm chất khác cho tính thuốc bớt lạnh, hoặc cho thêm thuốc khác để trung hòa hoá giải bớt khí thuốc và tính thuốc.

Trong thức ăn cũng chế biến cách này để hóa giải những chất làm hại cơ thể mà vẫn duy trì được chất bổ dưỡng. Chẳng hạn cholesterol trực tiếp hoặc gián tiếp vào cơ thể không những bằng các chất béo của dầu mỡ, mà có ngay cả trong thức ăn không có dầu mỡ. Theo đông y, nếu cơ thể đủ nhiệt năng do vận động nhiều làm chảy mỡ như những người làm lao động nặng thì cơ thể ăn bao nhiêu chất béo cũng không có bệnh cholesterol, nhưng cơ thể ít vận động, thân nhiệt lạnh, bao tử yếu tiêu hóa chậm (do nhiệt độ trong bao tử thấp dưới 41 độ theo tiêu chuẩn) thì tất cả các thức ăn vào cơ thể gọi là dưỡng trấp không đủ nhiệt năng chuyển hóa thành khí huyết bồi bổ cho cơ thể mà tất cả đều biến thành đàm, cho nên đàm là hậu quả của tính hàn trong bộ tiêu hóa không chuyển hóa kịp thời. Do sai lầm trong cách ăn uống, nó có thể tạo ra đàm từ cam, trái bơ, nước cốt dừa, sản phẩm bơ sữa, pho mát, đậu xanh, tinh bột... chứ không hẳn là chỉ dầu mỡ, trong động vật, cholesterol có nhiều trong da gà, trong thịt có nhiều mỡ, trong hải sản như tôm, cua ốc...
Nội dung được Thầy Vương Văn Liêu biên soạn
Hình ảnh minh họa bởi AI
Tải file PDF